Nội mạc tử cung và những vấn đề phụ khoa chị em cần đặc biệt lưu ý

0
40

Nội mạc tử cung ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe của chị em phụ nữ. Tìm hiểu về bộ phận đặc biệt này cung cấp cho chị em nhiều kiến thức phụ khoa quan trọng. Cùng tìm hiểu 1 số bệnh lý liên quan qua bài viết dưới đây nhé!

Nội mạc tử cung là gì?

Nội mạc tử cung là lớp lót bên trong của tử cung. Mỗi tháng, lớp này dày lên và tự làm mới. Hoạt động này để chuẩn bị cho quá trình mang thai. Nếu không có thai, ở đây sẽ tạo ra trong chu kỳ kinh nguyệt.

Nếu quá trình thụ thai diễn ra, phôi thai sẽ làm tổ ở vùng tử cung. Các tình trạng liên quan đến nội mạc tử cung và có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản bao gồm:

  • Lạc nội mạc tử cung
  • Hội chứng Asherman (Dính tử cung)
  • Ung thư nội mạc
  • Polyp nội mạc
  • Suy hoàng thể
  • Nội mạc mỏng hoặc quá dày
  • Nhiễm virus

nội mạc tử cung

Nội mạc tử cung hoạt động thế nào

Tử cung được tạo thành từ ba lớp: thanh mạc, cơ tử cung và nội mạc. Thanh mạc là lớp da bên ngoài của tử cung. Nó tiết ra một chất dịch lỏng để ngăn cản sự ma sát giữa tử cung và các cơ quan lân cận.

Lớp giữa tử cung là lớp dày nhất của tử cung. Lớp này được tạo thành từ các mô cơ trơn dày. Khi mang thai, cơ tử cung mở rộng để chứa em bé đang lớn. Trong quá trình chuyển dạ, các cơn co thắt của cơ tử cung hỗ trợ quá trình sinh nở.

Đây cũng là bộ phận tạo nên lớp lót bên trong của tử cung. Nó là một lớp niêm mạc và thay đổi độ dày trong suốt chu kỳ kinh nguyệt. Bản thân nội mạc được tạo thành từ ba lớp:

Lớp đáy

Đây là lớp sâu nhất nằm trên cơ tử cung. Nó không thay đổi nhiều trong suốt chu kỳ. Hãy coi nó như là cơ sở mà từ đó các lớp thay đổi để phát triển.

Lớp xốp

Đây là lớp trung gian xốp.

Lớp đặc

Đây là lớp ngoài cùng. Nó mỏng hơn và nhỏ gọn hơn so với các lớp khác. Đó là các lớp bọt biển địa tầng và tầng kết dính thay đổi đột ngột trong suốt chu kỳ kinh nguyệt. Cùng với nhau, hai lớp này được gọi là lớp chức năng. Lớp chức năng trải qua ba giai đoạn sơ cấp mỗi chu kỳ.

Giai đoạn tăng sinh

Ở giai đoạn này, nội mạc dày lên, chuẩn bị để tạo phôi. Giai đoạn này bắt đầu vào ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt và tiếp tục cho đến khi rụng trứng. Hormone estrogen rất quan trọng để hình thành nội mạc khỏe mạnh.

Nếu nồng độ estrogen quá thấp hoặc quá cao có thể dẫn đến nội mạc tử cung mỏng hoặc quá dày. Nội mạc cũng trở thành mạch máu trong thời gian này thông qua các động mạch thẳng và xoắn ốc. Các động mạch này cung cấp lưu lượng máu cần thiết cho cơ quan sinh sản.

Giai đoạn phân tiết

Trong giai đoạn này, nội mạc bắt đầu tiết ra các chất dinh dưỡng và chất lỏng cần thiết. Progesterone là hormone cần thiết cho giai đoạn này. Giai đoạn này bắt đầu sau khi rụng trứng và tiếp tục cho đến khi hành kinh.

Các tuyến của tử cung tiết ra protein, lipid và glycogen. Những thứ này cần thiết để nuôi dưỡng phôi thai. Nếu phôi thai tự làm tổ vào thành của nội mạc tử cung, nhau thai đang phát triển sẽ bắt đầu tiết ra hormone tuyến sinh dục màng đệm của con người (hCG). Hormone mang thai này sau đó báo hiệu cho hoàng thể (trên buồng trứng) tiếp tục sản xuất progesterone.

nội mạc tử cung

Độ dày nội mạc tử cung

Nếu bạn đang điều trị hiếm muộn, bác sĩ có thể nói rằng nội mạc của bạn quá mỏng hoặc thậm chí quá dày. Độ dày của nó được xác định thông qua siêu âm qua đường âm đạo. Không có thước đo rõ ràng về thế nào là nội mạc tử cung mỏng hoặc dày. Mỗi bác sĩ có một ý kiến ​ khác nhau về vấn đề này.

Tuy nhiên, nếu nội mạc quá mỏng hoặc quá dày có thể làm giảm khả năng thụ thai thành công. Nghiên cứu đã chỉ ra, điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc cấy ghép phôi hoặc làm tăng tỷ lệ sẩy thai. Nội mạc mỏng cũng có thể là một dấu hiệu của việc giảm khả năng sinh sản nói chung.

Suy hoàng thể (LPD)

Giai đoạn hoàng thể của chu kỳ kinh nguyệt bắt đầu sau khi rụng trứng và bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt. Trong giai đoạn hoàng thể, hormone progesterone đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt nội mạc tử cung tiết ra các chất dinh dưỡng. Chúng vừa duy trì nội mạc tử cung vừa tạo môi trường lành mạnh cho phôi thai.

Suy hoàng thể là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn của vô sinh. Nó xảy ra khi nồng độ progesterone không đủ cao hoặc không duy trì đủ lâu để giữ nội mạc nguyên vẹn và chuẩn bị cho quá trình làm tổ của phôi thai.

Suy hoàng thể có thể được phát hiện thông qua sinh thiết nội mạc. Thông thường hơn, các khuyết tật giai đoạn hoàng thể có thể được chẩn đoán thông qua xét nghiệm công thức máu mức progesterone. Nếu nồng độ không đủ cao hoặc không được duy trì đủ lâu, điều này có thể cho thấy sự thiếu hụt pha hoàng thể.

Lạc nội mạc tử cung

Đây là tình trạng nội mạc được tìm thấy bên ngoài khoang tử cung. Đây là một nguyên nhân phổ biến của vô sinh. Bệnh lý này chủ yếu được xác định do mô  phát triển ở những vị trí không đúng chỗ. Điều này ảnh hưởng đến tử cung và sự rụng trứng.

Polyp nội mạc tử cung

Bệnh này là sự phát triển quá mức của nội mạc. Chúng thường không phải ung thư và lành tính, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Sự hiện diện của một polyp nội mạc có thể gây vô sinh.

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc thụ thai, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật cắt bỏ polyp. Điều này có thể giúp bạn thụ thai mà không cần điều trị khả năng sinh sản bổ sung.

Hội chứng Asherman

Hội chứng này có thể gây ra rắc rối với việc thụ thai và sẩy thai nhiều lần. Nó có thể được điều trị trong quá trình nội soi tử cung. Đây là thủ thuật cho phép cả chẩn đoán và loại bỏ mô sẹo.

Nhiễm vi-rút nội mạc tử cung

Nhiễm vi-rút được tìm thấy trong nội mạc tử cung có thể gây vô sinh và sảy thai tái phát. Mặc dù đây vẫn là lý thuyết và đang trong giai đoạn nghiên cứu ban đầu, nó có thể giải thích một số trường hợp vô sinh “không rõ nguyên nhân”. Một nghiên cứu nhỏ nhưng có thể mang tính đột phá đã phát hiện ra mối liên hệ có thể có giữa virus herpes HHV-6A và vô sinh.

Ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung còn được gọi là ung thư tử cung. Vì gây chảy máu bất thường, loại ung thư này thường được chẩn đoán nhanh chóng. Chẩn đoán sớm có thể giúp điều trị duy trì khả năng sinh sản.

Ít hơn 5% trường hợp ung thư xảy ra ở phụ nữ dưới 40. Tuy nhiên, nó có thể xảy ra ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Ung thư có thể gây vô sinh. Do đó, chẩn đoán sớm là điều cần thiết.

Có những cách để bảo vệ khả năng sinh sản của bạn khi chẩn đoán sớm. Ví dụ, điều trị nội tiết tố (thay vì phẫu thuật) ung thư nội mạc có thể duy trì khả năng sinh sản.

LEAVE A REPLY